“Xưa nay chưa có thuốc trị lòng tham”
Bác sĩ thành danh thật lắm gian nan, cả về thời gian và sự
trưởng thành trong nghề nghiệp. Trước năm 75 ở miền Nam, để đậu
được vào Y khoa Huế, Sài Gòn khó đã đành, đến khi tốt nghiệp
cũng “trầy vi tróc vẩy”. Nhiều người không theo nổi phải “nửa
đường đứt gánh”, đành chuyển nghề hoặc có khi ra trường vẫn còn
nợ luận án…
Sau năm 1975, có thời kỳ không ai thèm thi vào y khoa nên điểm
chuẩn đầu vào rất thấp. Đơn cử như điểm chuẩn vào Đại học Y khoa
Huế năm 1998 chỉ 14 điểm. Tuy nhiên những năm gần đây, xã hội
lại trở lại chuộng “nhất Y, nhì Dược”… Điều đó nói lên, qua bao
thăng trầm lịch sử, y khoa luôn là một ngành được nhiều chiếu
cố. Đó là điều đáng mừng cho xã hội trọng học vấn.
Sinh viên thích vào ngành y (dù gần đây điểm chuẩn cao ngất
trời) có nhiều lý do. Ngoài nỗi đam mê nghề nghiệp, mong được
góp phần cứu chữa cho người bệnh thì còn có những lý do khác.
Trong đó có sự nể trọng, mối quan hệ xã hội, một nghề nghiệp đặc
biệt liên quan đến sinh mệnh con người (mà chuyện tử sinh rất là
nhạy cảm với một người bình thường) và thu nhập có vẻ “kha khá”
so với nhiều nghề...
Thời Pháp thuộc và trước năm 75, bác sĩ là những người được chọn
lọc từ thành phần ưu tú của sinh viên, được xã hội kính trọng
nên đa số họ có sự hiểu biết, tự trọng, kiến văn rộng rãi. Biết
“đạo người quân tử sống như tùng bách”. Nên chẳng
lạ gì khi nhiều bác sĩ cũng đồng thời là văn sĩ, họa sĩ, thi sĩ,
nhạc sĩ…
Y
đức không phải là điều cần rao giảng nhiều trong nhà trường
nhưng họ cũng tự hiểu phải “đối nhân xử thế” ra sao cho đúng chữ
“Sĩ”. (Trong tiếng Hán, chữ “Sĩ” gồm chữ “Nhất” và chữ
“Thập” ghép lại, có nghĩa là nguời biết hết tần tật chuyện thiên
hạ… Còn chữ “Sĩ” ghép với chữ “Khẩu” là chữ “Cát”, có nghĩa
những gì “Sĩ” nói ra phải là điều cát tường tốt đẹp…).
Bởi vậy mà đã có rất nhiều tấm gương trong sáng của các bác sĩ
như Đặng Văn Ngữ, Phạm NgọcThạch, Phạm Biểu Tâm, Lê Khắc Quyến…
khám bệnh không lấy tiền. Nhưng cũng cần nói thêm là thu nhập
(lương) của họ so với mặt bằng xã hội lúc đó khá cao, các bác sĩ
không cần mở phòng mạch khám tư cũng dư sống, nuôi vợ con
(nhất thế y tam đại công khanh).
Sau 75, thời thế đổi thay, xã hội xem bác sĩ như mọi ngành khác,
thậm chí thu nhập chẳng khác chi công nhân lao động, thua cả
“bác” tài chạy xe đường Lào hay các tài công tàu viễn dương… Do
vậy mà sự chọn lọc đối với các thành phần tham gia ngành y tại
Việt Nam bị giảm sút, hầu như ai cũng có thể vào, chưa kể chế độ
chuyển cấp từ y tá lên y sĩ, bác sĩ…
Từ
đó dẫn tới suy nghĩ, ứng xử của từng bác sĩ, y sĩ đối với chữ
“Sĩ”, cái “Sĩ” rất khác nhau, nhất là trong lúc kinh tế khó
khăn, thu nhập ít ỏi. Điều này không lạ, bởi ngày xưa cha ông ta
đã biết: “Nhược hữu lương y viên tuyệt mệnh. Tùng lai
vô dược trị tham tâm” (Dẫu có thầy thuốc hay chữa
bệnh khó, nhưng xưa nay chưa có thuốc trị lòng tham).
Cũng từ đó dẫn tới y đức bị báo động đỏ. Ngành y tế phải ra các
điều y đức, mở rộng học tập “Lương y như Từ mẫu” dù thừa biết
gốc gác căn bệnh từ đâu…. Do vậy mà hiệu quả của bao nhiêu lời
kêu gọi về “y đức” xem ra không được như mong muốn. Nên không có
gì lạ khi xã hội phản ứng với “triệu đóa huê hồng” của
các hãng duợc trao vào tay các bác sĩ, thậm chí xã hội còn bị
“choáng” với thu nhập của bác sĩ, “lương” không đủ sống mà
“bổng” thì ngất trời…
Các bài viết gần đây trên Internet và báo chí đã phân tích khá
đầy đủ, tôi chỉ xin tóm tắt: Thu nhập của nhiều bác sĩ hiện nay
rất cao nhờ làm tư: mở phòng mạch, mổ ngoài bệnh viện tư, mổ
ngoài giờ…. (đó là lao động chân chính có thể chấp nhận!), hoặc
nhờ phong bao, phong bì (có thể do tự nguyện của bệnh nhân hay
bắt chẹt người bệnh, hoặc hành nghề không theo chính đạo, trục
lợi trên sức khỏe người bệnh thiếu hiểu biết… là hậu quả của
nhất thế y tam thế suy…)…
Tuy nhiên, hiện dư luận xã hội chỉ mới nhìn thấy “điểm” mà chưa
thấy ”diện”. Số bác sĩ ở các thành phố lớn có thu nhập cao, “nhà
lầu, xe hơi” chỉ là thiểu số trong cả nước so với các bác sĩ ở
tuyến quận, huyện, xã, phường hay các y tá, điều duỡng, y công….
Ở
đây tôi chỉ muốn nhắc hai điều mong mọi người bình tâm suy xét:
Y
khoa là môn khoa học và nghệ thuật (science and art - Từ điển
Bách khoa). Cho nên cách đây hơn trăm năm, William Osler
(1849 – 1919), thầy thuốc tim mạch người Anh đã nói: Y
khoa là một khoa học của sự bất định, và một nghệ thuật của xác
suất (Medicine is a science of uncertainly, and an art of
probability). Từ đó để thấy rằng, bệnh tật con người và
sự điều trị thành công không có mẫu số chung. Nên chuyện “thầy
thuốc mát tay, tài giỏi” là có thật,. Bởi thế, cùng mở phòng
mạch nhưng có nơi thì khách rất đông, thu nhập cao, có nơi lại
chẳng ai tìm đến.

William Osler (1849-1919)
Nhưng như người xưa đã nói: “Đại phú do thiên, tiểu phú do
cần” (Giàu to do trời, giàu nhỏ do cần cù siêng năng)…
Nói bác sĩ có thu nhập cao, thật ra cao nhất cũng chỉ mới đến
mức trung lưu trong xã hội, chứ những “đại gia” có máy bay riêng
thì có ai theo nghề y, làm thầy thuốc đâu?
Y
khoa không có thần đồng mà phải khổ luyện, nhất là với các bác
sĩ ngoại khoa, thường xuyên phải mổ xẻ. Sau khi tốt nghiệp, ít
nhất họ phải trải 10 năm trong nghề mới có kinh nghiệm. Chứ vừa
ra trường, chưa thực sự hành nghề mà đã có nhà lầu xe hơi thì
hoặc là do cha mẹ để lại, hai là... từ các nước giàu có trở về,
chỉ cần dựa vào “lương y như tháng trước” là có đủ tất cả, khỏi
mở phòng mạch, khỏi mổ chạy “sô”, nhận phong bì… chi cho mệt!
Nói cách khác, sự đòi hỏi về chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp
đối với ngành y là rất cao, nhưng đồng lương mà những người theo
ngành này đang được hưởng thì lại thực sự là không đủ sống.
Chính sự bất hợp lý đó đã dẫn tới sự xuống cấp về y đức, y đạo
khiến xã hội lên án và rất nhiều người trong ngành y cũng cảm
thấy đau lòng.
Nhưng nếu chỉ phê phán những bác sĩ “sống không nhờ lương” mà
không mổ xẻ và cải tổ đến cùng cái cơ chế tồn tại lâu nay đã dẫn
tới hoặc là phải chụp giựt để sống, để nuôi vợ con, hoặc là lợi
dụng để trục lợi ở một số người trong ngành y, thiết nghĩ cũng
chỉ mới là phiến diện!
Bs
Lê Quang Thông
(Bệnh viện Đà Nẵng)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
name:
Lê Hoàng Đại
email:
chanthat.BV
Mỗi người trong ngành y đều được đào tạo cơ bản,
nghiêm túc. Mỗi người trong số họ còn phải nỗ lực trau dồi kinh
nghiệm và đại đa số trong số họ là muốn đem trí tuệ công sức để
phục vụ nhân dân, đóng góp một phần nho nhỏ vào những thành công
của nền y học. Ranh giới giữa sự sống và cái chết là rất mong
manh; tôi tin rằng không may có một sự thất bại nào đó dù là nhỏ
nhất thì những người được gắn chữ "sĩ" ấy đều day dứt. Cứ thử
nhìn lại cuộc sống của họ; thời gian ở viện, nghiên cứu tài liệu
nhiều hơn ở nhà hay cho gia đình; chưa kể tính chất công việc áp
lực căng thẳng, nhiều rủi ro nghề nghiệp và chịu dư luận. Đối
với các tuyến huyện và xã thì họ đúng là vác cái "sĩ" để làm tất
cả các lĩnh vực Nội Ngoại Sản Nhi Lây, Hồi sức....Ngày một
..."sĩ" điều trị khoảng > 30 -<60 bệnh nhân đồng thời tiếp đón
khoange 10-20 bệnh nhân, cho ra viện khoảng 10- 25 bệnh nhân,
hoàn thành và tổng kết BA không kịp thì ôm về nhà làm ....đó là
thực tế. Những năm qua, Chính Phủ đã có chính sách ưu đãi
cho ngành y tế nhưng còn nhiều bất cập. Đặc biệt vấn đề chế độ
thường trực cho cán bộ tuyến cơ sở. Không phải không có những
trường hợp bán trực để đi khám phòng mạch tư. không phải không
có những người chán làm công mà thích làm tư, không phải không
có những người suy thoái đạo đức, thô lỗ đối với nhân dân ....đó
chỉ là "con sâu là rầu nồi canh".
Tôi đồng tình với bài viết của Bs Thông. và tôi nghĩ rằng nhiều
người đeo chữ "sĩ" như tôi cũng đồng quan điểm.